Trong kho tàng từ ngữ Hán Việt, có những từ tuy không còn được sử dụng phổ biến trong đời sống thường nhật nhưng vẫn hiện diện bền bỉ trong kho tàng văn chương và tư tưởng truyền thống. “Tịch chiếu” là một trường hợp như vậy. Khảo sát các từ điển tiếng Việt hiện đại cho thấy đây không phải là một từ thông dụng, thậm chí nhiều từ điển không ghi nhận như một mục từ độc lập. Tuy nhiên, khi tìm về các tác phẩm văn học chữ Hán, văn học trung đại Việt Nam và kinh điển Phật giáo, ta lại bắt gặp từ “tịch chiếu” với những sắc thái ý nghĩa rất riêng. Điều đáng chú ý là hai cách hiểu của từ “tịch chiếu” bắt nguồn từ hai tổ hợp Hán tự khác nhau nhưng cùng được đọc là “tịch chiếu” theo âm Hán Việt.
Tịch chiếu trong văn chương
Trong văn chương, “tịch chiếu” thường được viết là 夕照, nghĩa là ánh chiều tà hay ánh nắng cuối ngày. Chữ 夕 là buổi chiều, chiều tối, thời điểm mặt trời dần khuất sau đường chân trời. Về mặt tạo tự, 夕 là một chữ tượng hình cổ, mô phỏng hình vầng trăng non xuất hiện khi trời bắt đầu tối, vì vậy mang nghĩa gốc là buổi chiều tối hoặc đêm xuống. Chữ 照 nghĩa là soi chiếu, chiếu sáng. Ghép lại, “tịch chiếu” trở thành hình ảnh ánh nắng hoàng hôn phủ lên cảnh vật. Trong cảm quan thẩm mỹ phương Đông, ánh chiều tà không đơn thuần là một hiện tượng thiên nhiên mà còn là biểu tượng của sự lắng đọng, của nỗi niềm hoài cảm trước bước đi của thời gian.
Bởi vậy, hình ảnh này xuất hiện khá nhiều trong thơ ca cổ điển. Trong bài Đề đạo nhân vân thuỷ cư kỳ 16, vua Lê Thánh Tông viết:
Nguyên âm chữ Hán
臺榭依稀夕照天,
寒雲出岫翠綿綿。
Phiên âm
Đài tạ y hi tịch chiếu thiên,
Hàn vân xuất tụ thuý miên miên.
Giữa không gian núi non mây nước, ánh chiều tà phủ xuống khiến nhà trên đài hiện lên thấp thoáng, mờ xa. “Tịch chiếu” ở đây không chỉ tả ánh sáng của buổi hoàng hôn mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp thanh vắng, tĩnh mịch của cảnh vật.
Tương tự, trong bài Lư khê nhàn điếu, Mạc Thiên Tích (1) viết:
Nguyên âm chữ Hán
遠遠滄浪含夕照,
鱸溪煙裏出漁燈。
Phiên âm
Viễn viễn thương lang hàm tịch chiếu,
Lư khê yên lý xuất ngư đăng.
Ánh chiều tà như tan vào sóng nước xa xa, trong khi đèn chài bắt đầu xuất hiện giữa màn khói mỏng. Chỉ với hai chữ “tịch chiếu”, nhà thơ đã gợi lên khoảnh khắc giao hòa giữa ngày và đêm, giữa ánh sáng đang tàn và sự sống vẫn tiếp diễn trên dòng sông quê. Trong những trường hợp như vậy, “tịch chiếu” là một hình ảnh giàu chất thơ, gợi cảm giác man mác, thanh đạm và đầy dư vị.
Phân biệt hai cách viết “tịch chiếu” qua chiết tự chữ Hán
Mặc dù đều được đọc là “tịch chiếu”, nhưng trong Phật giáo và văn chương, hai từ này lại được viết bằng hai chữ Hán khác nhau, và chính cấu tạo chữ Hán đã cho thấy sự khác biệt về ý nghĩa.
Trong Phật giáo, “tịch chiếu” được viết là 寂照. Chữ 寂 (tịch) gồm bộ Miên 宀 ở trên và chữ Thúc 叔 ở dưới. Đây là một chữ thuộc loại hình thanh, trong đó bộ Miên 宀 biểu thị ý nghĩa liên quan đến sự yên tĩnh, tịch lặng, còn 叔 đảm nhiệm vai trò gợi âm đọc. Vì vậy, toàn chữ mang ý nghĩa vắng lặng, tịch tĩnh, không còn sự xao động của vọng niệm. Chữ 照 (chiếu) gồm phần 昭 ở trên và bộ Hỏa 灬 ở dưới. Bộ Hỏa biểu thị ánh sáng, còn 昭 mang nghĩa sáng rõ, hiển lộ. Do đó, 照 có nghĩa là soi sáng, chiếu rọi, làm cho sự vật trở nên rõ ràng. Trong ngôn ngữ Phật giáo, chữ “chiếu” không chỉ mang nghĩa chiếu sáng thông thường mà còn chỉ năng lực quán chiếu của trí tuệ, tức khả năng soi thấy chân tướng của sự vật và thực tướng các pháp. Khi ghép lại thành 寂照, chữ 寂 thiên về sự lặng yên của bản thể, chữ 照 thiên về sự sáng suốt của trí tuệ. Hai chữ kết hợp tạo nên ý nghĩa “tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch”, tức tâm tuy an tĩnh nhưng vẫn sáng biết, không rơi vào trạng thái vô tri hay trống rỗng.
Trong văn chương, “tịch chiếu” lại được viết là 夕照. Chữ 夕 (tịch) là một chữ tượng hình cổ, mô phỏng hình vầng trăng non xuất hiện vào lúc chiều tối. Vì thế, nghĩa gốc của chữ là buổi chiều, chiều muộn hoặc hoàng hôn. Khác với chữ 寂 vốn hướng về trạng thái nội tâm, chữ 夕 chỉ một thời điểm trong chu trình vận hành của thiên nhiên. Chữ 照 vẫn giữ nguyên nghĩa là chiếu sáng. Ghép lại thành 夕照, nghĩa đen là “ánh sáng của buổi chiều”, tức ánh tà dương hay nắng hoàng hôn. Chính vì chữ 夕 chỉ thời gian nên toàn bộ ý nghĩa của từ hướng về cảnh vật thiên nhiên, trở thành một hình ảnh thơ mộng thường gặp trong thi ca cổ điển.
Nhìn từ góc độ chiết tự, sự khác biệt nằm ngay ở chữ đầu tiên. 寂 có bộ Miên 宀, gợi sự tĩnh tại và hướng vào đời sống nội tâm, nên 寂照 trở thành thuật ngữ Phật học chỉ trạng thái tâm linh thanh tịnh và giác ngộ. Ngược lại, 夕 là hình tượng của buổi chiều tà trong tự nhiên, nên 夕照 trở thành hình ảnh văn chương chỉ ánh nắng cuối ngày. Một bên là sự tĩnh lặng của tâm thức để phát sinh trí tuệ, một bên là ánh sáng của hoàng hôn nơi ngoại cảnh. Nói cách khác, 寂照 là ánh sáng phát xuất từ nội tâm giác ngộ, còn 夕照 là ánh sáng của cảnh giới thiên nhiên. Một bên thuộc về thế giới tinh thần, một bên thuộc về thế giới hiện tượng. Chỉ khác nhau một chữ Hán nhưng đã tạo nên hai thế giới ý nghĩa hoàn toàn riêng biệt: 寂照 là ánh sáng của giác tính, còn 夕照 là ánh sáng của chiều tà.
Kết luận
Có thể nói, “tịch chiếu” là một từ ngữ đặc biệt, nơi văn chương và triết lý gặp nhau trong cùng một âm đọc nhưng lại mở ra hai thế giới ý nghĩa khác nhau. Việc truy nguyên nguồn gốc và cấu tạo chữ Hán của từ “tịch chiếu” cho thấy chỉ một âm đọc Hán Việt nhưng có thể tương ứng với những văn tự và hệ thống ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Đây cũng là một minh chứng cho chiều sâu văn hóa của lớp từ Hán Việt trong văn học và tư tưởng truyền thống.
Chú thích:
- Hà Thiên Tứ là nhà cai trị trấn Hà Tiên – Mueang Phutthai Mat; một vùng lãnh thổ nay thuộc cực Nam Việt Nam và một phần Campuchia. Đương thời ông xưng thần với cả chúa Nguyễn ở Đàng Trong cũng như triều đình Cao Miên và Xiêm La ở phía tây. Ông là con Tổng binh Mạc Cửu – người sáng lập Hà Tiên trấn.
Tham khảo:
- Tịch chiếu, blog.phapthihoi.org.
- Tịch Chiếu, phatgiao.org.vn.
