Chuyên mục chính

  • Nghi lễ vòng đời
    • Hôn lễ
    • Sinh con
    • Động thổ làm nhà
    • Mừng thọ và sinh nhật
    • Tang ma
    • Ngày giỗ
  • Nghi lễ hàng năm
    • Dịp Tết Nguyên Đán 1/1
    • Dâng sao giải hạn 15/1
    • Nguyên tiêu 15/1
    • Tết Thanh minh 3/3
    • Tết Hàn thực 3/3
    • Tết Đoan ngọ 5/5
    • Lễ Thất Tịch 7/7
    • Lễ Vu Lan 15/7
    • Tết Trung Nguyên 15/7
    • Tết Trung thu 15/8
    • Tết Trùng Cửu 9/9
    • Tết Cơm mới (10-15/10)
    • Tết Táo Quân 23/12
    • Ngày mùng 1 hàng tháng
    • Ngày rằm hàng tháng
  • Đặc trưng văn hóa Việt
    • Chữ và Nghĩa
    • Phong tục thờ cúng
    • Văn hóa giao tiếp
    • Món ăn truyền thống
    • Trò chơi dân gian
    • Trang phục truyền thống
    • Nghệ thuật truyền thống
    • Di sản văn hoá
    • Nền nếp sinh hoạt
  • Tôn giáo tín ngưỡng
    • Phật giáo
    • Công giáo
    • Thờ cúng tổ tiên
    • Thờ cúng tổ nghề
    • Tín ngưỡng thờ Thần
    • Tín ngưỡng thờ Mẫu
    • Tôn giáo khác

Menu

  • Trang đầu
  • Giới thiệu
  • Liên hệ

Follow Us

DMCA.com Protection Status
Cổ Phong
No Result
View All Result
Khóa học
Cổ Phong
No Result
View All Result
Home Đặc trưng văn hóa Việt
Tuc nap cheo

Tục nạp cheo trong đám cưới xưa

Theo tục lệ xưa, khi tổ chức đám cưới, nhà trai (đôi khi cả nhà trai và nhà gái cùng góp) nộp cho làng nhà gái một khoản tiền cheo thì đám cưới mới được coi là hợp pháp, hôn thú mới nhận được sự công nhận của làng xóm. Khoản “nạp cheo” này nhiều địa phương dùng vào các việc công ích như đào giếng, lát đường, xây cổng làng… Ngày nay, tục nạp cheo không được duy trì nữa mà chỉ còn tồn tại qua những câu ca dao - tục ngữ.

“Lấy vợ mười heo, không cheo cũng mất…
Cưới vợ không cheo như tiền gieo xuống suối.”

Hay:

“Có cưới mà chẳng có cheo
Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài.”

Cheo là gì?

Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên cho biết: “Cheo, khoản tiền hay hiện vật mà người con trai phải nộp cho làng của người con gái khi cưới, theo tục lệ cũ. Nộp cheo.”[1]

Trong từ điển Việt – Bồ – La do Alexandre de Rhodes soạn: “Cheo: Tiền của nộp cho làng trong lễ cưới, chiêu thân, Ăn cheo: Đám cưới.”[2]

Trong Đại Nam Quốc âm tự vị, tập II, trang 131, tác giả Huỳnh Tịnh Của cho biết: “Cheo: Chiêu thân, nạp tiền cầu thân (nói về lễ cưới). Lệ cũ, hễ có đám cưới đi ngang qua làng nào, thì làng ấy đem ít thước lụa đỏ, giăng ngang qua đàng mả đón, gọi là nhai lan, khi ấy đàng trai phải đem tiền, như khác làng thì ba quan, đồng làng thì ít hơn, mà xin làng nhìn biết lây mình cùng cho đi thong thả, ấy nghĩa là chiêu thân.”

Có nhiều cách dùng từ cheo như ăn cheo, nộp cheo, đóng cheo, phá cheo, cheo cưới, cheo chạy tang, cheo làng,… Tựu trung đều là nói về tục lệ trong đám cưới.

Nguồn gốc

Về nguồn gốc của tục nạp cheo, tác giả cuốn Đất lề quê thói cho biết: “Nạp cheo là đem trầu rượu lễ cáo yết thành hoàng làng nhà gái và nạp tiền lệ cho làng vào sổ (vẫn làng nhà gái). Trong sổ ghi nhận tiền và trên giấy phái-lai đề là tiền Lan nhai (Giấy tờ việc công ngày xưa đều viết chữ Hán, rất ít dùng chữ Nôm). Lan nghĩa là ngăn, là cách trở, Nhai là đường đi. Tục này nguyên do tự bên Tàu, khi có đám cưới, trên đường đến nhà cô dâu, mấy kẻ hèn hạ đem xe đặt ngang đường chắn lối đi, đòi cỗ bàn ăn uống; có nơi phong thổ người lối xóm chăng dây chắn ngang đường, dây thường là một dải lụa đỏ. Người ra đặt mấy câu hỏi hoặc để thử tài hoặc để trêu ghẹo chú rể, nhiều khi người ta đốt pháo mừng. Nhà trai bao giờ cũng “phong bao” một ít tiền, dây chăng được đẹp lại cho nhà gái đi.”[3] Tục ấy, cũng chẳng rõ có ở xứ Nam ta từ thuở nào. “… dây chăng ngang đường thường có gài ở khoảng giữa một mảnh vải tây điều tượng trưng vui mừng; nếu không cho tiền, chúng dọa sẽ cắt đứt dây là điềm gở cho đôi lứa mai sau. Đối với đám cưới nhà giầu sang thì dây là cái thắt lưng nhiễu điều chăng ngang đường, ở đầu dây thường có bày một cái án với giá gương độc bình đỉnh đồng, dụng ý long trọng hóa để thưa rằng đừng lấy làm chơi. Có khi bọn chăng dây còn đốt pháo mừng để cho nhà trai phải liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.”[4]

Trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, GS Đào Duy Anh cũng chép rằng tục nạp cheo có gốc từ tục chăng dây ở bên Trung Hoa: “Khi họ nhà trai đương đi đến nhà gái thì ở giữa đường thường gặp những đám giăng dây (Người ở các làng dọc đường hay làng nhà gái đặt một cái bàn ở bên đường, có hương hoa trầu pháp, và giăng ngang đường một cái dây. Khi đoàn nhà trai đi đến đó thì những người giăng dây đốt pháo để mừng, có cho họ tiền thì họ mới mở dây mà cho đi), phải nộp tiền thì người ta mới mở dây cho đi. Tục ấy nguyên ở Tàu gọi là lan giai (nghĩa là chặn đường). Nhưng ở nước ta hai chữ lan giai lại dùng để chỉ lệ nộp cheo. Theo lệ này thì nhà trai phải nộp một món tiền cho làng người con gái như một thứ thuế hôn nhân. Có nơi, khi họ nhà trai đi đến cửa làng nhà gái thì người làng đóng cửa lại đòi cho được tiền rồi mới mở cửa cho đi. Tục ấy cũng giống lệ lan giai. Dần dần tục giăng dây và đóng cửa để đón đường thành một lệ của làng, do pháp luật công nhận, tức là lệ nộp cheo vậy. Lại có nơi chính người nhà đóng cửa nhà gái, hay chính người họ đóng cửa từ đường để đòi tiên. Song những tục ấy không phổ thông bằng tục giăng dây đón đường kia.”[5]

Cuốn 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam chép: “Tiền “cheo” là khoản tiền nhà trai nạp cho làng xã bên nhà gái. Trai gái cùng làng xã lấy nhau cũng phải nạp cheo song có giảm bớt. Xuất xứ của lệ “Nạp cheo” là tục “Lan nhai” tức là tục chăng dây ở dọc đường hoặc ở cổng làng. Đầu tiên thì người ta tổ chức đón mừng hôn lễ, người ta chúc tụng, có nơi còn đốt pháo mừng. Để đáp lễ, đoàn đưa dâu cũng đưa trầu cau ra mời, đưa quà, đưa tiền biếu tặng.”[6]

Vậy, có thể hiểu rằng, tục nạp cheo vốn có nguồn gốc từ tục chăng dây ở Trung Hoa, dần dần được Việt hóa phù hợp với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc ta. Thậm chí, có một giai đoạn, nạp cheo trở thành một tục lệ không thể thiếu trong phần nghi lễ cưới xin, là yếu tố quan trọng để hôn nhân đôi lứa được coi là “hợp pháp”.

Tục nạp cheo

Theo các tư liệu hiện còn, được biết, lễ nạp cheo thường gồm 2 phần chính là tiền/hiện vật nộp cho làng và trầu cau chia biếu quan viên cũng như toàn thể dân làng nhà gái. Nếu gia đình nào không tham gia lễ cưới, mõ làng còn phải thay gia chủ đem trầu đến từng nhà biếu, như một hình thức thông báo tới dân làng về đám cưới để nhận lại sự công nhận chính thức.

Trong phần “Việc hỉ”, tác giả cuốn Việt Nam phong tục có nhắc tới tục nạp cheo: “Lệ cưới xin phải nộp tiền lan nhai cho làng, tục gọi là nộp cheo. Người trong làng lấy nhau thì nộp độ một vài đồng bạc, gọi là cheo nội, người ngoài lấy gái làng thì bao giờ cũng phải nộp nặng hơn, hoặc dăm sáu đồng hoặc mươi đồng hoặc một vài chục. Tùy tục riêng từng làng, gọi là cheo ngoại. Có nơi không lấy tiền, bắt nộp bằng gạch bát tràng, hoặc nơi thì bắt nộp bằng mâm đồng bát sứ, tùy làng cần dùng thức gì thì nộp thức ấy chớ không nộp tiền, nhưng chiếu giá tiền thì cũng tương đương nhau.”[7]

Lệ cheo phụ thuộc vào quy định của từng làng: làng này thì nộp mâm đồng, chén bát để dùng trong ngày hội, làng kia thì một ít gạch để lát đường hư hỏng hay vật liệu để sửa những nơi công cộng trong làng như cái cầu, giếng nước…

Vậy, rõ ràng, tùy tục lệ từng nơi mà cheo có thể là tiền, là hiện vật dùng cho công việc chung của làng nhưng miếng trầu – là đầu câu chuyện khó mà thiếu trong việc nạp cheo. Ngoài lệ cheo làng, có nơi còn lại có lệ cheo hàng xóm, cheo bản tộc, cheo bản thôn, hoặc năm ba tiền kẽm hoặc một vài quan hay một hai đồng bạc… nhưng không phổ biến.

Trước khi nhận cheo, làng phải xét xem đôi bên lấy nhau có hợp nghĩa không, hoặc là có thật bằng lòng nhau không, rồi mới nhận lễ. Nếu không xét thì có khi người đàn ông lấy ép người đàn bà không chịu, hoặc là lấy nhau trái với đạo luân thường, thì làng có lỗi.

Khi nhận cheo, lý trưởng hoặc tiên chỉ làng sẽ cấp cho chàng trai một tờ phái cheo tức là tờ biên lai xác nhận chàng trai đã nạp cheo trong việc cưới một cô gái làng. Về sau, khi cần giấy chứng nhận hôn thú, chàng trai phải xuất trình phái cheo. Lý trưởng sẽ căn cứ vào phái cheo để cấp giấy chứng nhận hôn thú. “Hễ có cheo rồi mới thành gia thất. Cheo tức là ý phân bua với làng nước. Lấy nhau đã có cưới cheo là sự hôn thú phân minh, về sau vợ chồng có điều gì không dễ mà ly dị được nhau, và người ngoài cũng không có phép mà tranh cạnh được nữa.”[8]

Dần dần, phong tục đẹp đẽ ấy cũng bị biến hóa, có những người lợi dụng cơ hội cũng chăng dây, vòi tiền, sách nhiễu, trở thành tục lệ xấu. Vì thói xấu lan dần, gây nhiều cản trở, triều đình phải ra quy định rõ ràng.

Theo ghi chép trong Lê triều chiếu lệnh thiện chính, tháng 7, năm Cảnh Trị nguyên niên (1663), vua Lê Huyền Tông ban hành 47 điều lệ về đường giáo hóa, trong đó có quy định rõ việc thu tiền lan nhai hay còn gọi là nạp cheo: “Vợ chồng là cái gốc luân thường, lấy vợ gả chồng phải theo lễ nghĩa; không được so kè giàu nghèo, đòi nhiều tiền của. Khi gả bán phải phân biệt họ hàng và nòi giống, không được tham sự giàu sang, mà khiến cho hôn giá loạn luôn (luân) thường; cùng là không được không có sính lễ mà cầu họp, để đến nỗi gần như giống cầm thú. Vô luận ở làng mình hay ở làng khác, đều cho phép thu tiền “lan nhai” là một quan tiền cổ và một vò rượu, Quan viên và binh lính ở xã thôn nhà gái, không được viện cớ là lấy chồng ở làng khác, mà đòi tiền “lan nhai” quá lạm và tiền tiễn tống; hay là hùa nhau bắt hiếp những phụ nữ ở góa, lấy về làm vợ làm hầu. Ai trái lệnh này sẽ bị khép tội.”[9]

Dưới thời Nguyễn, vua Gia Long cũng ra quy định về tiền cheo. Đại Nam thực lục, tập 1, quyển XXIII – Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế cho biết: Năm Giáp Tý, niên hiệu Gia Long thứ 3 (1804), vua cho định lại điều lệ hương đảng cho các xã dân ở Bắc Hà. “Chiếu rằng: “Nước là họp các làng mà thành. Từ làng mà đến nước, dạy dân nên tục, vương chính lấy làng làm trước. Gần đây giáo dục trễ nải, chính trị suy đồi, làng không tục hay, noi theo đã lâu, đắm chìm quá đỗi. Phàm tiết ăn uống, lễ cưới xin, việc ma chay và thờ thần thờ phật, nhiều việc quá trớn lấn lễ ; bọn hào mục nhân đó mà đục khoét, người cùng dân đến nỗi dạt xiêu, thực là bởi cớ ấy. Nay tham chước thêm bớt, xén chỗ quá đáng, để chỗ vừa phải, lập định lệ cho hương đảng, là muốn sửa đổi nguồn tệ để cùng về đường chính vậy”… Về lễ giá thú. Phong hóa loài người bắt đầu gây nên từ đó. Sách Kinh nói: “Hôn lễ là mối đầu của đạo người”. Văn Trung Tử nói: “Giá thú mà bàn của cải là thói của rợ mọi”. Đại phàm lấy vợ lấy chồng, chẳng qua cốt được cặp đôi mà thôi, còn lễ cưới thì nên châm chước trong sáu lễ, lượng tùy nhà có hay không, chứ không được viết khế cố ruộng. Hương trưởng thu tiền cheo trong lễ cưới thì người giàu 1 quan 2 tiền, người vừa thì 6 tiền, người nghèo 3 tiền, người làng khác thì gấp đôi. Nếu có kẻ cẩu hợp chửa hoang thì phạt người gian phụ 30 quan và cha anh 3 quan để giữ phong hóa.”[10]

Vậy, theo quy định chung của triều đình, không cho phép thu cheo của chú rể làng khác nặng hơn chú rể cùng làng. Tuy nhiên, đúng là “phép vua thua lệ làng”, hầu hết các làng vẫn có lệ cheo nội (đối với người trong làng) nhẹ hơn cheo ngoại (đối với người làng khác), cheo nội một quan tiền thì cheo ngoại hai ba quan hoặc hơn nữa. Có lẽ là cách để “giữ” gái cho trai làng, cũng thỏa ước nguyện của phần đông cha mẹ là gả con gái gần để “có bát canh cần nó cũng mang sang” hay tránh cảnh “trước là mất giỗ, sau là mất con”.

Thời pháp thuộc chế độ cai trị ba xứ Bắc Trung Nam khác nhau. Riêng tại Bắc Việt luật lệ về hộ tịch được thiết lập từ năm 1923 là năm bắt đầu thi hành cải lương hương chính (riêng tại Hà Nội và Hải Phòng là nhượng địa có sổ hộ tịch từ 1917). Sinh, tử, giá, thú đều có sổ ghi chép rõ ràng. Lúc này, trên thực tế, tục nạp cheo không còn ý nghĩa trong việc ghi nhận sự hợp pháp của hôn thú nữa. Tuy nhiên, ở nhiều vùng quê, dân làng vẫn duy trì nếp biếu trầu cau như một hình thức báo hỷ tới bà con hàng xóm, cũng là một cách chia sẻ niềm vui, giữ gìn phong hóa.

Tục nạp cheo trong ca dao tục ngữ

Tục nạp cheo đã trở thành một phần của văn hóa làng, vì vậy không ít ca dao tục ngữ đã nói đến việc này, như một cách ví von cho một lời hứa hẹn hôn nhân đầy tốt đẹp.

“Em về thưa với mẹ cha
Anh chẳng có lợn, có gà đi cheo
Anh có cái cối giã bèo
Anh xin bán để nộp cheo cho làng.”

Trong kho tàng ca dao, tục ngữ không khó để tìm được những bài nhắc tới tục nạp cheo, từ tầm quan trọng của việc nạp cheo trong phong tục cưới xưa, nạp cheo thế nào hay sự trăn trở của các chàng trai về việc làm sao nạp đủ cheo để rước được người thương.

“Ông xã đánh trống thình thình
Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo.”

Bài ca dao phản ánh việc đi ăn cheo của các vị chức sắc trong làng. Âm thanh của những tiếng trống tưng bừng, của sự chuẩn bị tươm tất mũ áo thể hiện niềm vui sướng, hân hoan của họ khi làng có cô con gái đến tuổi trưởng thành, xây dựng cuộc sống mới.

Tục nạp cheo cho thấy rằng việc cưới xin không còn là việc riêng của đôi trai gái hay gia đình hai bên nữa mà là sự xác lập quan hệ của cả làng hoặc hai làng, sự gắn kết cộng đồng. Nạp cheo có thể xem như là một sự thử thách tài năng đối với gia đình nhà trai. Nó được xem là một phần cống hiến của cô gái khi đến tuổi trưởng thành, có nghĩa vụ với quê hương, làng xã. Đồng thời, cũng là thể hiện sự coi trọng của nhà trai với nhà gái.

Tiền cheo làng đã trở thành một nghĩa vụ ăn sâu trong tiềm thức của các chàng trai, đến nỗi lúc vừa mới quen buông lời tán tỉnh thì “cheo làng” cũng đã xuất hiện trong lời bày tỏ:

“Cô kia đi chợ Hà Đông
Để anh kết nghĩa vợ chồng cùng đi
Anh đi chưa biết mua gì
Hay mua con lợn phòng khi cheo làng.”

Hay trong bài ca dao Tát nước đầu đình, ngay khi tỏ tình, chàng trai cũng đã tính tới việc chuẩn bị tiền cheo:

“Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.”

Nhưng câu chuyện nạp cheo ở đây đã được chàng trai khéo léo thể hiện, từ sự bắt buộc thành tự nguyện, dù tiền cheo cao hơn cả tiền nạp tệ mà vẫn vui vẻ “giúp”, đủ để bày tỏ sự chân thành của mình.

Khi đã nạp cheo cho làng nghĩa là đám cưới được làng công nhận, có giấy biên nhận làm cơ sở để sau xin giấy hôn thú. Bởi vậy, nếu không nạp cheo thì không có giấy hôn thú, tức đám cưới không được thừa nhận:

“Có cưới mà chẳng có cheo
Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài.”

“Có cưới mà không có cheo
Nhân duyên trắc trở như kèo không đanh.”

Hay:

“Nuôi lợn thì phải vớt bèo,
Lấy vợ thì phải nạp cheo cho làng.”

“Ai chồng, ai vợ mặc ai
Bao giờ ra bản, ra bài hẵng hay
Bao giờ tiền cưới trao tay
Tiền cheo rấp nước mới hay vợ chồng.”

 

Thông qua kho tàng ca dao tục ngữ, phần nào chúng ta cũng hình dung được hình thức nạp cheo cũng khá đa dạng, có thể là tiền, có thể là rượu, cũng có thể là hiện vật:

“Cưới em chín quả cau vàng
Cưới em chín chục họ hàng ăn chơi
Vòng vàng kéo lấy mười đôi
Lụa là chín tấm, tiền rời nghìn quan
Gọi là có hỏi có han
Mười chung rượu nếp cheo làng là xong.”

“Bắc thang hái ngọn trầu xanh
Cả cheo lẫn cưới xin anh một ngàn.”

“Trèo lên cây gạo cao cao
Lệ cheo làng Nhót độ bao nhiêu tiền?
Cheo thời có bảy quan hai
Lệ làng khảo rể trăm hai mươi vồ
Thôi thôi tôi giã ơn cô
Tiền cheo cũng nặng, trăm vồ cũng đau.”

“…Một bên cối đá một đằng tiền cheo
Hỏi chàng rằng có hay nghèo
Lệ làng phải sửa bấy nhiêu mới từng
Chín con gà luộc cho tươm
Chín mâm xôi xới chàng đơm cho đầy
Cau non chín thúng rõ đầy
Rượu chín trăm hũ chàng rày đưa sang
Trước là theo tục lệ làng…”

Khi tam thư lục lễ đã hoàn thành, tiền cheo đã nạp, đám cưới sẽ được diễn ra trong sự đông đủ của gia đình, họ hàng hai bên và bà con lối xóm trong sự đầm ấm, thân tình:

“Anh Hai đi cưới chị Hai
Mâm trầu, hũ rượu tốn hai mươi tiền
Còn dư mua chả mua nem
Mua cặp lồng đèn hai họ cùng lên
Ông Cai, ông Ký, ngồi trên
Sui gia ngồi dưới, hai bên họ hàng.”

“Anh lấy em có cheo có cưới
Đủ mặt họ hàng, xóm dưới làng trên.”

Kết luận

Xuất phát như một khoản “mãi lộ” cho những thành viên tham gia “giăng dây” thì về sau tiền cheo đã được dân làng sử dụng vào các việc công ích như đào giếng, lát gạch cho đường làng, xây cổng làng… góp phần xây dựng văn hóa làng. Những năm đầu thế kỷ XX, tục nạp cheo vẫn còn tồn tại ở một số vùng nông thôn, tuy nhiên do điều kiện lịch sử và sự du nhập của văn hóa phương Tây, cũng như một vài tiêu cực xoay quanh nên tục lệ này không còn duy trì nữa. Đến nay, tục nạp cheo chỉ còn tồn tại trong ký ức của thế hệ xưa cũ cũng như trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt. Dẫu vậy, không thể phủ nhận rằng nạp cheo đã từng là biểu tượng cho sự hợp pháp của hôn nhân xưa, là một phong tục đặc trưng của sinh hoạt văn hóa làng xã Việt Nam.

Chú thích

[1] GS Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2003, tr. 147.

[2] Alexandre de Rhodes, Từ điển Việt – Bồ – La và các cứ liệu liên quan, Nxb Tôn giáo, 2021, tr. 94.

[3] Nhất Thanh – Vũ Văn Khiếu, Đất lề quê thói, Cơ sở xuất bản Đại Nam, 1968, tr. 352.

[4] Nhất Thanh – Vũ Văn Khiếu, Đất lề quê thói, Sđd, tr. 353 – 354.

[5] Đào Duy Anh, Việt Nam Văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin, 2002, tr. 225 – 226.

[6] Văn Tân, 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, 2001, tr. 14.

[7] Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb Văn học, 2005, tr. 172 – 173.

[8] Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Sđd, tr. 173.

[9] Lê triều chiếu lệnh thiện chính, TS Nguyễn Sĩ Giác phiên âm và dịch nghĩa, Nhà in Bình Minh, 1961, tr. 297.

[10] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo dục, 2002, tr. 583 – 584.

Tài liệu tham khảo

  1. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam Văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin.
  2. Toan Ánh (1965), Nếp cũ – Con người Việt Nam, nhà sách Khai Trí.
  3. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học, 2005.
  4. Lê triều chiếu lệnh thiện chính, TS Nguyễn Sĩ Giác phiên âm và dịch nghĩa, Nhà in Bình Minh, 1961.
  5. GS Hoàng Phê (Chủ biên), 2003, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học.
  6. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo dục.
  7. Alexandre de Rhodes (2021), Từ điển Việt – Bồ – La và các cứ liệu liên quan, Nxb Tôn giáo.
  8. Văn Tân (2001), 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc.
  9. Nhất Thanh – Vũ Văn Khiếu (1968), Đất lề quê thói, Cơ sở xuất bản Đại Nam.
Tags: chăng dâyđám cướilan nhaiNạp cheo
ShareTweet

Để lại một bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


No Result
View All Result
  • Nghi lễ vòng đời
    • Hôn lễ
    • Sinh con
    • Động thổ làm nhà
    • Mừng thọ và sinh nhật
    • Tang ma
    • Ngày giỗ
  • Nghi lễ hàng năm
    • Dịp Tết Nguyên Đán 1/1
    • Dâng sao giải hạn 15/1
    • Nguyên tiêu 15/1
    • Tết Thanh minh 3/3
    • Tết Hàn thực 3/3
    • Tết Đoan ngọ 5/5
    • Lễ Thất Tịch 7/7
    • Lễ Vu Lan 15/7
    • Tết Trung Nguyên 15/7
    • Tết Trung thu 15/8
    • Tết Trùng Cửu 9/9
    • Tết Cơm mới (10-15/10)
    • Tết Táo Quân 23/12
    • Ngày mùng 1 hàng tháng
    • Ngày rằm hàng tháng
  • Đặc trưng văn hóa Việt
    • Chữ và Nghĩa
    • Phong tục thờ cúng
    • Văn hóa giao tiếp
    • Món ăn truyền thống
    • Trò chơi dân gian
    • Trang phục truyền thống
    • Nghệ thuật truyền thống
    • Di sản văn hoá
    • Nền nếp sinh hoạt
  • Tôn giáo tín ngưỡng
    • Phật giáo
    • Công giáo
    • Thờ cúng tổ tiên
    • Thờ cúng tổ nghề
    • Tín ngưỡng thờ Thần
    • Tín ngưỡng thờ Mẫu
    • Tôn giáo khác

© 2021 cophong.vn