Dẫn nhập
Trong nền văn hóa Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, “lệ kiêng húy” (忌諱) được xem là một phong tục đặc trưng, gắn liền với quan niệm đạo đức, luân lý và lễ nghi trong xã hội truyền thống. Dưới các triều đại quân chủ, kiêng húy là quy định trong phạm vi cả nước ảnh hưởng rộng rãi đến văn chương, chữ viết, đời sống hành chính và sinh hoạt dân gian. Đặc biệt, dưới triều Trần (thế kỷ XIII – XIV) lệ kiêng húy bắt đầu được chuẩn hóa một cách rõ ràng và chặt chẽ. Việc kiêng húy thời Trần không chỉ nhằm bảo vệ sự tôn nghiêm của nhà vua và hoàng tộc, mà còn phản ánh ý thức đề cao đạo lý “quân – thần”, tinh thần trung quân cũng như phản ánh đời sống chính trị và văn hóa đương thời. Nghiên cứu về lệ kiêng húy thời Trần vì vậy không chỉ cho thấy một khía cạnh của văn hóa ngôn ngữ, mà còn góp phần làm sáng tỏ đặc điểm tư tưởng, tổ chức quyền lực và giá trị tinh thần của xã hội Đại Việt thời trung đại.
1. Từ nguyên về húy
Từ “kiêng” trong tiếng Việt ngày nay có nguồn gốc từ tiếng Hán, song không phải lớp từ Hán Việt thông thường mà thuộc lớp cổ Hán Việt, tức là những từ Hán đã du nhập rất sớm vào nước ta, được Việt hóa và sử dụng trong đời sống dân gian qua nhiều thế kỷ. Theo sự biến đổi ngữ âm và ngữ nghĩa, từ “kiêng” trong tiếng Việt có thể truy nguyên về tổ hợp “kinh kị” 驚忌 trong tiếng Hán cổ. Trong đó, chữ “kinh” 驚 mang nghĩa gốc là sự sợ hãi, giật mình, đặc biệt dùng để chỉ phản ứng của con ngựa khi bị kích động mà chồm lên (theo Thuyết văn giải tự: “驚,馬駭也。” – Kinh, mã hãi dã). Chữ này cấu tạo theo phương thức hài thanh, gồm bộ mã 馬 biểu nghĩa và chữ kính 敬 biểu âm. Qua quá trình chuyển nghĩa, “kinh” không chỉ dừng ở nghĩa vật lý là “giật mình” mà còn mang nghĩa tâm lý sợ hãi, e dè, từ đó liên hệ với ý thức tránh né điều không may.
Còn chữ kị 忌 lại có nghĩa là tránh, cữ, không dám làm điều gì đó vì lo sợ hoặc kính nể. Hai chữ “kinh” và “kị” ghép lại thành kinh dị 驚忌, nghĩa là sợ hãi mà tránh đi, là hình thái gốc mà từ kiêng trong tiếng Việt có thể xuất phát. Như vậy, kiêng không chỉ đơn thuần là hành động tránh né, mà ẩn chứa trong đó là tâm lý tôn kính, e dè, sợ phạm vào điều cấm kị – một nét tâm lý rất phổ biến trong xã hội lễ nghi cổ truyền.
Đối với từ “húy” 諱, đây là khái niệm trung tâm trong cụm “kiêng húy”. Chữ “húy” gồm bộ “ngôn” 言 (lời nói, ngôn ngữ) ở bên trái và chữ “vi” 韋 (da thuộc, hoặc ý chỉ vật bao bọc) ở bên phải, biểu thị ý nghĩa ẩn giấu lời nói, không được phép nói ra. Về nghĩa gốc, “húy” có nghĩa là “kiêng kỵ, tránh nói hoặc tránh viết tên riêng của người đáng tôn kính”. Trong Thuyết văn giải tự, Hứa Thận chú: “諱,誋也 – Húy, kị dã”, nghĩa là húy là điều phải kiêng kị để răn dạy người đời. Sách Ngọc Biên 玉篇 chú rằng: “隱也,忌也。- Ẩn dã, kị dã”, nghĩa là giấu đi, tránh đi vậy. Như vậy, xét từ mặt cấu tạo và ngữ nghĩa, “húy” là sự kết hợp giữa yếu tố lời nói (言) và hành động lánh đi (韋).
Trong văn hóa cổ truyền, húy dùng để chỉ tên của người bề trên, vua chúa hoặc tổ tiên, mà hậu thế không được phép nhắc tên trực tiếp. Do đó, người ta thường nói tên người sống gọi là danh, tên người chết gọi là húy. Khi nhắc đến tên húy, người ta phải tránh hoặc đọc chệch đi, gọi bóng, thay chữ, hoặc thậm chí đổi hẳn âm để thể hiện sự tôn kính và e dè. Từ đó, húy không chỉ mang giá trị ngôn ngữ học mà còn chứa đựng giá trị đạo đức và xã hội, phản ánh mối quan hệ tôn ti nghiêm cẩn trong hệ thống văn hóa.
2. Kiêng húy tại Trung Quốc
Sách Chu Lễ 周礼 đã có nhắc đến quy định kiêng húy thời Chu: “小史掌邦國之志,奠係世,辨昭穆。若有事,則詔王之忌諱。(志謂記也。先生死為忌,名為諱)- Tiểu sử chưởng bang quốc chi chí, điện hệ thế, biện chiêu mục. Nhược hữu sự, tắc chiếu vương chi kị húy. (chí vị ký dã. Tiên sinh tử vi kị, danh vi húy)”, nghĩa là chức Tiểu sử giữ việc ghi chép trong nước, xác định các đời nối dõi, phân biệt hàng Chiêu và hàng Mục [1]. Nếu có việc (liên quan đến tế tự hay ghi chép) thì truyền báo điều kiêng húy của vua. “Chí” nghĩa là ghi chép. Bậc tiên vương mất thì ngày mất gọi là kị, tên gọi là húy (Chu Lễ, Xuân Quan – Tiểu sử). Từ đây có thể thấy, ngay trong hệ thống lễ chế của triều Chu, việc kiêng húy đã được đặt trong khuôn khổ hành chính – nghi lễ, phản ánh quan niệm tôn ti và lòng tôn kính đối với quân chủ.
Trong Tả truyện 左傳 cũng ghi nhận việc kiêng húy thời Chu: “周人以諱事神:名,終將諱之 – Chu nhân dĩ húy sự thần: danh, chung tương húy chi”, nghĩa là: “Người thời Chu khi thờ thần linh đều kiêng nhắc đến tên của người quá cố, khi qua đời thì giấu tên đi.” Việc kiêng húy ở đây không chỉ dừng lại ở tầng nghi lễ mà còn mang tính tâm linh, thể hiện quan niệm con người phải giữ lòng kính sợ trước thần linh và tổ tiên.
Ngay cả Khổng Tử khi san định kinh Xuân Thu cũng quy ước không chép tên bậc tôn trưởng, không chép trên cha mẹ, không chép tên người hiền [3]. Tuy nhiên nhà Chu không ban bố lệnh kiêng húy nên Công Dương truyện ghi chép việc làm nói trên như việc phương thức chép sử của Khổng tử chứ không nói rõ việc Khổng Tử chép như vậy là theo lệ kinh húy của nhà Chu.
Sang đến thời Chiến quốc, việc kiêng húy càng trở lên rộng rãi và trở thành quy ước xã hội. Mạnh Tử trong thiên Tận tâm hạ của sách Mạnh Tử cũng đề cập: “諱名,不諱性,性所同也,名所獨也 – Húy danh, bất húy tính, tính sở đồng dã, danh sở độc dã” nghĩa là: “Chỉ kiêng tên chứ không kiêng họ, họ thì nhiều người giống nhau còn tên là riêng của từng người”.
Trong Lễ kí 禮記 phần Khúc lễ thượng 曲禮上 cũng đề cập chi tiết hơn về việc kiêng húy: “不諱嫌名,二名不遍諱,詩書不諱,臨文不諱 – Bất húy hiềm danh, nhị danh bất biến húy, Thi Thư bất húy, lâm văn bất húy” nghĩa là không kiêng chữ húy chữ đồng âm, tên hai chữ không kiêng húy cả, đọc sách Thi, Thư [4] không kiêng húy, làm văn không phải kiêng húy. Như vậy, đến thời điểm này lệ kiêng húy đã được chuẩn hóa trong lễ nghi và học thuật, vừa mang tính tôn ti, vừa tránh cực đoan, tạo nền tảng cho các triều đại sau phát triển thành luật lệ rõ ràng và chặt chẽ hơn.
3. Kiêng húy thời Trần tại nước ta
3.1. Ghi chép về việc kiêng húy qua tư liệu chính sử
Ở nước ta trước thời Trần không thấy đề cập đến lệ kiêng húy. Theo ghi chép của Toàn thư thì mãi đến đầu thời Trần mới có lệnh kiêng húy.Theo đó 8 lần ban lệnh kiêng húy thời Trần gồm:
Lần thứ nhất năm Kiến Trung thứ 8 (1232) đời vua Trần Thái Tông, Toàn thư chép:“夏六月頒國諱廟諱元祖諱李因改李朝為阮朝且絶民之望李氏也 – Hạ lục nguyệt, phân quốc huý, miếu huý. Nguyên tổ huý Lý, nhân cải Lý triều vi Nguyễn triều, thả tuyệt dân chi vọng Lý thị dã”. Nghĩa là: “Mùa hạ, tháng 6, ban bố các chữ quốc húy và miếu huý. Vì Nguyên tổ tên húy là Lý, mới đổi triều Lý làm triều Nguyễn, vả lại cũng để dứt bỏ lòng mong nhớ của dân chúng đối với nhà Lý.” [5]
Lần thứ hai là năm Hưng Long thứ 2 (1294) đời vua Trần Anh Tông, Toàn thư chép: “春 二 月 七 日 頒 國 諱 帝 諱 烇 仁 宗 昑 聖 宗 晃 太 宗 煚 太 祖 承 元 祖 李 内 諱 聖 慈 皇 后 蜂 順 慈 皇 后 妙 顯 慈 皇 后 罃 元 聖 皇 后歆 – Xuân nhị nguyệt, thất nhật, phân quốc huý, Đế huý thuyên, Nhân Tông khâm, Thánh Tông Hoảng, Thái Tông Cảnh, Thái Tổ Thừa, Nguyên Tổ Lí, nội huý Thánh Từ Hoàng hậu Phong, Thuận Từ Hoàng hậu Diệu, Hiển Từ Hoàng hậu Oanh, Nguyên Thánh Hoàng hậu Hâm”. Nghĩa là: “Mùa xuân tháng 2, ngày mồng 7 ban bố các chữ quốc huý: chữ huý của vua là Thuyên, của Nhân Tông là Khâm, của Thánh Tông là Hoảng; của Thái Tông là Cảnh, của Thái Tổ là Thừa, của Nguyên Tổ là Lý; các chữ nội huý: Thánh Từ hoàng hậu là Phong, Thuận Từ hoàng hậu là Diệu, Hiển Từ hoàng hậu là Oanh, Nguyên Thánh hoàng hậu là Hâm.” [6]
Lần thứ ba là năm Hưng Long thứ 6 đời vua Trần Anh Tông, Toàn thư chép: “戊 戌 六 年 元 大 德 二 年 春 頒 魏 珠 二 字 諱 – Mậu Tuất lục niên, [Nguyên Đại Đức nhị niên,] xuân, phân Nguỵ, Châu nhị tự huý”. Nghĩa là: “Mậu Tuất, [Hưng Long] năm thứ 6 [1298], (Nguyên Đại Đức năm thứ 2). Mùa xuân, ban hai chữ huý là Nguỵ và Châu.” [7]
Lần thứ tư và năm Hưng Long thứ 7 (1299), Toàn thư chép: “己 亥 七 年 元 大 德 三 年夏 四 月 十 二 日 詔 禁 欽 明 大 王 善 道 國 母 諱 欽 明 諱 柳 善 道 諱 月 善 道 柳 夫 人 臨 文 不 得 用若 魏 濕 南 乾 蘇 峻 英 顙 等 字 臨 文 减 畫 . 陳 諱 外 親 自 此 始 – Kỷ Hợi thất niên, [Nguyên Đại Đức tam niên,] hạ tứ nguyệt, thập nhị nhật, chiếu cấm Khâm Minh Đại Vương Thiện Đạo quốc mẫu huý [Khâm Minh huý Liễu, Thiện Đạo huý, Nguyệt. Thiện Đạo Liễu phu nhân.] lâm văn bất đắc dụng. Nhược Nguỵ, Thấp, Nam, Càn, Tô, Tuấn, Anh, Tảng đẳng tự lâm văn giảm hoạ. Trần huý ngoại thân tự thử thuỷ ”. Nghĩa là: “Kỷ Hợi [Hưng Long] năm thứ 7 [1299], (Nguyên Đại Đức năm thứ 3). Mùa xuân, tháng 4, ngày 12, xuống chiếu cấm chữ huý của Khâm Minh Đại Vương và Thiện Đạo quốc mẫu (Khâm Minh tên huý là Liễu, Thiện Đạo tên huý là Nguyệt; Thiện Đạo là phu nhân của Liễu) khi làm văn không được dùng. Các các chữ Nguỵ, Thấp, Nam, Càn, Tô, Tuấn, Anh, Tảng khi làm văn phải viết bớt nét. Nhà Trần kiêng tên huý họ ngoại bắt đầu từ đây” [8]. Nếu như các giai đoạn trước, nhà Trần chỉ kiêng húy nội tộc thì nay lại có cả việc kiêng họ ngoại. Sở dĩ có việc này là do các cuộc hôn nhân nội tội của nhà Trần. Ví dụ, Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Hậu (vợ vua Trần Thánh Tông là con của Khâm Minh Đại Vương Trần Liễu, Khâm Từ Hoàng Hậu (vợ của vua Trần Nhân Tông) là con gái của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Bảo Từ Khâm Thánh Hoàng Hậu (vợ vua Trần Anh Tông) là con gái của Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng. Bởi vậy việc kiêng húy họ ngoại đã góp phần vào việc nâng cao hơn nữa vị thế của dòng dõi Trần Liễu.
Lần thứ năm là năm Hưng Long thứ 12 (1304) đời vua Trần Anh Tông, Toàn thư chép: “秋 七 月 詔 凡 廟 諱 御 名 正 文 减 畫 – Thu thất nguyệt, chiếu phàm miếu huý ngự danh chính văn giảm hoạ”. Nghĩa là: “Mùa thu, tháng 7, xuống chiếu rằng các chữ huý về miếu hiệu, tên vua, thì viết bớt nét.” [9]
Lần thứ sáu cũng trong năm Hưng Long thứ 12 (1304) đời vua Trần Anh Tông, Toàn thư chép: “八 月 禁 李 朝 廟 諱 藴 瑪 尊 德 煥 祚 𣉙 旵 𣉙 字 减 畫 – Bát nguyệt, cấm Lí triều miếu huý Uẩn, Mã, Tôn, Đức, Hoán, Tộ, Cán, Sảm tự giảm hoạ”. Nghĩa là: “Tháng 8, cấm chữ huý miếu hiệu nhà Lý 8 chữ: Uẩn, Mã, Tôn, Đức, Hoán, Tộ, Cán (cán đồng âm với càn phiên thiết là hãn thiết, Sảm, viết bớt nét.” [10]
Lần thứ bảy là năm Đại Khánh thứ nhất (1314) dưới triều vua Trần Minh Tông, Toàn thư chép: “元 春 三 月 勑 中 書 頒 本 朝 名 諱 增 入 寕 皇 及 宣 慈 保 慈 二 太 后 諱 – Nguyên xuân tam nguyệt, sắc Trung thư phân bản triều danh huý tăng nhập Ninh Hoàng cập, Tuyên Từ, Bảo Từ nhị Thái hậu huý”. Nghĩa là: “Mùa xuân, tháng 3, sắc cho Trung thư ban tên huý của bản triều, thêm các tên huý của Ninh Hoàng và của hai thái hậu Tuyên Từ, Bảo Từ.” [11]
Lần thứ tám là năm Quang Thái thứ 8 (1395) dưới thời vua Trần Thuận Tông. Toàn thư chép: “乙 酉 八 年 明 洪 武 二 十 八 年 春 二 月 二 十 日 却 月 字 南 字 諱 許 用 依 舊 – Ất Dậu bát niên, [Minh Hồng Vũ nhị thập bát niên] xuân nhị nguyệt, nhị thập nhật, khước Nguyệt tự Nam tự huý hứa dụng y cựu.” Nghĩa là: “Ất Hợi, [Quang Thái] năm thứ 8 [1395], (Minh Hồng Vũ năm thứ 28). Mùa xuân, tháng 2, ngày 20, bỏ huý chữ Nguyệt và chữ Nam cho dùng chữ cũ” [12].
Như vậy có thể thấy xuyên suốt thời Trần đã ban hành 8 đạo chỉ nói về việc kiêng húy, từ vua Trần Thái Tông đến vua Trần Thuận Tông. Việc kiêng chủ yếu là kiêng tên vua, hoàng tộc và các hoàng hậu. Kiêng húy có kiêng đồng âm và giảm bớt các nét trong tên.
3.2. Một số dấu tích việc kiêng húy thời Trần qua tư liệu Hán Nôm
Qua nguồn tư liệu Hán Nôm hiện còn chúng ta có thể thấy một số minh chứng việc kiêng húy thời Trần.
Thứ nhất là kiêng húy đồng âm chữ Thừa 丞 trong tên của thượng hoàng Trần Thừa. Bởi vậy dưới thời Trần chức quan Ngự sử Trung thừa đổi làm Ngự sử Trung tán. Theo Toàn thư, từ đời Lê Ngoạ Triều quan chế nước ta đại thể dựa theo quan chế đời Tống. Chức quan này, nhà Tống gọi là Ngự sử trung thừa 御史中丞, đến thời Lý vẫn đặt chức Nội Thường thị Trung thừa 内常侍中丞. Nhà Trần phỏng theo quan chức chế nhà Tống và kế thừa ít nhiều từ triều Lý, nhưng vì kiêng húy Trần Thừa nên có lẽ là đã đổi thành Trung tán中贊. Toàn thư chép: “五月以段汝諧為御史中賛- Tháng 5 lấy Đoàn Như Hài làm Ngự sử trung tán.” [13] Hay như người đi sứ sang nhà Tống năm Thiện Thuận thứ 5 (1132), Đại Việt sử lược chép là Nguyễn Phụng Ân 阮奉恩, Toàn thư được biên soạn dưới thời vua Lê Thánh Tông đã khôi phục đúng họ tên thật của vị sứ thần này là Lý Thừa Ân 李承恩. Chúng ta thấy soạn giả Đại Việt sử lược đã xử lý kiêng húy bằng cách đổi chép họ Lý 李 => họ Nguyễn 阮, và thay chữ Thừa 承 => Phụng 奉 (phụng 奉 và thừa 承 có bộ phận đồng nghĩa). [14]
Thứ hai là kiêng húy chữ Diệu trong tên húy của Thuận Từ hoàng hậu 順慈皇后 họ Lê (Lê Thị Diệu 黎氏妙), bà là mẹ của Trần Thái Tông. Bản in Thiền Uyển tập anh ở truyện có câu: “恁麼即隨流始發玅理 – Nhậm ma tức tùy lưu thủy phát diệu lý”. Chữ Diệu 玅 chính tự thông thường đều viết 妙. Ở đây văn bản dùng 玅 là chữ dị thể của 妙, cũng có thể coi là một biện pháp để thể hiện kiêng húy chữ Diệu.
Thứ ba là kiêng ngoại húy (tức húy bên đằng họ ngoại). Do triều Trần kết hôn nội tộc nên việc kiêng ngoại húy vẫn dùng húy của người trong tộc. Như thời Trần Anh Tông ban lệnh cấm chữ huý của Khâm Minh Đại Vương Trần Liễu và Thiện Đạo quốc mẫu húy là Nguyệt. Qua khảo sát các bi ký có niên đại trong khoảng thời gian lệnh kiêng húy chữ Nguyệt 月 có hiệu lực (1299 – 1397), có thể thấy một số chữ Nguyệt 月 viết kiêng húy bớt nét. Ví dụ trong bia Tam Bảo đại bi tại chùa Đại Bi xã Hướng Đạo huyện Văn Lâm dựng năm Khai Thái thứ 4 (1327) thấy rõ được lệ kiêng húy này: 重建興午午正八月月初九日 – Trùng hưng ngũ niên Kỷ Sửu ngũ nguyệt sơ cửu nhật.; 乙亥四月月- Ất hợi tứ nguyệt. Hai chữ nguyệt 月 trong văn bản này đều bớt đi một nét ngang bên trong. Nhưng vậy được liệt vào trường hợp bớt nét để tránh phạm húy.
3.3. Nhận xét về quy tắc kiêng húy thời Trần
Có thể thấy kiêng húy ở Việt Nam bắt đầu từ thời Trần. Xuyên suốt thời Trần có 8 lần ban lệnh kiêng húy, việc kiêng húy bao gồm cả nội húy và ngoại húy [15]. Đặc biệt dưới thời Trần Minh Tông, vua rất xem trọng việc kiêng húy. Bàn về việc này sử thần Ngô Sĩ Liên trong Toàn thư đã nhận xét: “Vua vốn nhân hậu với họ hàng, nhất là đối với bậc bề trên mà hiển quý lại càng tôn kính. Kẻ thần hạ hễ ai cùng tên (với họ hàng nhà vua) đều phải đổi cả, như Độ đổi thành Sư Mạnh vì là cùng tên với thượng phụ, Tung đổi thành Thúc Cao vì là cùng tên với Hưng Ninh Vương (con trưởng của An Ninh vương) . Lại các tên của chú bác, cô cậu, khi nói đến vẫn kiêng cả. [Vua] có quyển sổ nhỏ biên những chữ huý không được nói đến, trao cho các hoàng tử và cung phi. Chỉ vì ngài có tấm lòng ấy, nên đã có chính tích ấy.” [16]
Thông qua việc khảo cứu các văn bản, bia ký đời Trần còn sót lại cho thấy lệ kiêng húy được tuân thủ tương đối chặt chẽ và phủ khắp trên phạm vi cả nước, từ kinh đô cho đến các vùng biên ải. Hơn nữa, việc kiêng húy không chỉ kiêng mặt chữ hán bằng việc thay chữ, bớt nét mà ngay cả âm cũng phải kiêng, tránh nhắc đến. Dù văn bản bia ký thời Trần còn ít, việc nghiên cứu chữ huý rất cần thiết. Việc nhận diện và hiểu thể thức kiêng húy thời Trần, kể cả các chữ đã được nhắc, sẽ giúp giám định văn bản, xác định niên đại, đặc biệt với những trường hợp thông tin bị mờ, thiếu hoặc nghi vấn.
Sau triều Trần, các triều Lê sơ, Lê Trung Hưng, Nguyễn vẫn tiếp tục quy định về lệ kiêng húy. Các quy định của các triều đại sau này trong mỗi giai đoạn lại thêm chặt chẽ ít nhiều, từ đó đáp ứng được các yêu cầu trong việc hoàn bị về mặt điển chương lễ pháp của nhà nước phong kiến.
4. Kết luận
Lệ kiêng húy chữ viết thời Trần là một đặc trưng văn hóa độc đáo, phản ánh mối quan hệ giữa quyền lực, tôn ti trật tự và văn hóa chữ viết trong triều đại này. Bắt đầu từ các vua Thái Tông, Thánh Tông và phát triển đặc biệt dưới thời Anh Tông, lệ kiêng húy không chỉ áp dụng với tên húy của vua mà còn mở rộng đến họ ngoại của Hoàng hậu, tên người, tên đất và chức quan. Thể thức kiêng húy với các phương pháp như thay chữ, bớt nét hay đánh dấu khuyết bút không khác biệt với Trung Quốc và các triều đại Lê, Nguyễn sau này.
Từ việc nghiên cứu trường hợp thời Trần, có thể thấy rõ rằng kiêng húy không chỉ là một quy phạm mang tính hành chính mà còn là dấu ấn văn hóa tác động không ít đến các vấn đề địa danh và hành chính. Chính vì vậy, để hiểu trọn vẹn tiến trình phát triển của lệ húy trong lịch sử Việt Nam, cần đặt nó vào dòng chảy liên tục qua các triều đại. Trong bài viết tiếp theo chúng tôi sẽ tiếp tục khảo cứu lệ kiêng húy dưới thời Lê và Nguyễn, hai giai đoạn mà quy chế húy kỵ được hệ thống hóa chặt chẽ và để lại dấu ấn sâu đậm hơn trong thư tịch và đời sống văn bản. Đây sẽ là cơ sở để nhìn thấy sự kế thừa, biến đổi và đặc điểm riêng của từng triều đại trong tiến trình hình thành văn hóa chữ viết truyền thống.
Chú thích
[1] Chiêu và mục là chỉ vị trí bài vị trong nơi thờ tự. Các đời thứ hai, tư và sáu thờ bên trái, gọi là hàng chiêu 昭; các đời thứ ba, năm và bảy thờ bên phải gọi là hàng mục 穆.
[2] Ngô Đức Thọ, Chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1997, tr. 22.
[3] Nguyên văn phần này nằm trong Công Dương truyện Mẫn công nguyên niên 公羊傳閔公元年: “春秋爲尊者諱,爲親者諱,爲賢者諱”.
[4] Thi Thư là nói đến Kinh Thi 經詩 và Kinh Thư 經書. Kinh Thi là một bộ sách gồm có những câu ca dao rất cổ của Trung Hoa. Ngày xưa, Thiên tử cứ năm năm đi tuần thú một lần và ra lệnh cho quan Thái sư hiến dâng ca dao để xem phong tục của dân. Thiên Nghệ văn chí trong Hán thư có chép: “Cổ hữu thái thi chi quan, vương giả sở dĩ quan phong tục, tri đắc thất.” (nghĩa là: Xưa có chức quan phụ trách việc đi nhặt ca dao; bậc vương giả lấy đó mà xem xét phong tục, biết được sự đắc thất về chính trị). Kinh Thư hay Thượng Thư là một trong các bộ kinh điển của Nho gia, là bộ tổng tập các văn kiện thời Tiên Tần, nội dung ghi chép chủ yếu là các đối thoại giữa vua tôi các triều đại thời Thượng cổ như Hạ, Thương, Chu…
[5] Nội các quan bản, Đại Việt sử kí toàn thư, tập 2 (Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính)Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 13.
[6] Nội các quan bản, Đại Việt sử kí toàn thư, tập 2, Sđd, tr. 71.
[7] Nội các quan bản, Đại Việt sử kí toàn thư, tập 2, Sđd, tr. 75.
[8] Nội các quan bản, Đại Việt sử kí toàn thư, tập 2, Sđd, tr. 76.
[9] Nội các quan bản, Đại Việt sử kí toàn thư, tập 2, Sđd, tr. 88.
[10] Nội các quan bản, Đại Việt sử kí toàn thư tập 2, Sđd, tr. 89.
[11] Nội các quan bản, Đại Việt sử kí toàn thư, tập 2, Sđd, tr. 99.
[12] Nội các quan bản, Đại Việt sử kí toàn thư, tập 2, Sđd, tr. 187.
[13] Nội các quan bản, Đại Việt sử kí toàn thư, tập 2, Sđd, tr. 76.
[14] Ngô Đức Thọ, Chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Sđd, tr. 46.
[15] Nội húy 內諱 tức húy trong nội tộc gia đình (ông, cha) như nhà Trần kiêng húy các vị Trần Lý, Trần Thừa là Trần Cảnh,… là thuộc về nội húy. Nội húy phân biệt với ngoại húy 外諱 tức húy bên đằng ngoại như nhà Trần kiêng húy Trần Liễu và phu nhân do là cha mẹ vợ của vua Trần Thánh Tông, hay kiêng húy Trần Quốc Tuấn vì ông là cha vợ của Trần Nhân Tông.
[16] Nội các quan bản, Đại Việt sử kí toàn thư, tập 2, Sđd, tr. 100.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
- Vũ Thị Mai Hương (2008), Nhận xét về cơ sở ngữ âm học của các từ kỵ húy trong tiếng Việt, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Nguyễn Văn Khoa (2008), Về chữ Huý trong Thác Bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Văn chương Việt, truy cập tại: https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=9269 (truy cập ngày 04/11/2025).
- Nội các quan bản (Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính), (1998), Đại Việt sử kí toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Tạ Quang Phát (1966), Quốc húy của triều Nguyễn, Việt Nam Khảo-cổ Tập-san số 4, Bộ Quốc-gia Giáo-dục Sài Gòn.
- Ngô Đức Thọ (1997), Chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
- Nguyễn Quảng Tuân (2013), Có thể căn cứ vào các chữ kỵ húy để xác minh thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều, Tạp chí Hồn Việt.
- Nguyễn Quảng Tuân (2015), Vấn đề kỵ húy trong Truyện Kiều, Tạp chí Hồn Việt.
Tài liệu tiếng trung
- 張高評 (2019)。《史記》忌諱叙事與《春秋》書法 : 以征伐匈奴之相關人事為例。《嶺南學報》,復刊 第十二輯,頁19-59。檢自
- 陈垣 (2012), 跟大师学国学:史讳举例, 中华书局于2012年出版的学术普及读物

