Chuyên mục chính

  • Nghi lễ vòng đời
    • Hôn lễ
    • Sinh con
    • Động thổ làm nhà
    • Mừng thọ và sinh nhật
    • Tang ma
    • Ngày giỗ
  • Nghi lễ hàng năm
    • Dịp Tết Nguyên Đán 1/1
    • Dâng sao giải hạn 15/1
    • Nguyên tiêu 15/1
    • Tết Thanh minh 3/3
    • Tết Hàn thực 3/3
    • Tết Đoan ngọ 5/5
    • Lễ Thất Tịch 7/7
    • Lễ Vu Lan 15/7
    • Tết Trung Nguyên 15/7
    • Tết Trung thu 15/8
    • Tết Trùng Cửu 9/9
    • Tết Cơm mới (10-15/10)
    • Tết Táo Quân 23/12
    • Ngày mùng 1 hàng tháng
    • Ngày rằm hàng tháng
  • Đặc trưng văn hóa Việt
    • Chữ và Nghĩa
    • Phong tục thờ cúng
    • Văn hóa giao tiếp
    • Món ăn truyền thống
    • Trò chơi dân gian
    • Trang phục truyền thống
    • Nghệ thuật truyền thống
    • Di sản văn hoá
    • Nền nếp sinh hoạt
  • Tôn giáo tín ngưỡng
    • Phật giáo
    • Công giáo
    • Thờ cúng tổ tiên
    • Thờ cúng tổ nghề
    • Tín ngưỡng thờ Thần
    • Tín ngưỡng thờ Mẫu
    • Tôn giáo khác

Menu

  • Trang đầu
  • Giới thiệu
  • Liên hệ

Follow Us

DMCA.com Protection Status
Cổ Phong
No Result
View All Result
Khóa học
Cổ Phong
No Result
View All Result
Home Chưa có nhóm
Mac dang dung

CỬU TÍCH HAY ĐIỀM THAY ĐỔI TRIỀU ĐẠI?

Dẫn nhập: Trong lịch sử chính trị Đông Á, Cửu tích vốn là chế định lễ nghi tối cao do quân chủ ban cho đại thần có công trạng hiển hách. Tuy nhiên, từ cuối thời Hán trở đi, Cửu tích dần vượt khỏi phạm vi nghi lễ thuần túy để trở thành dấu hiệu chính trị báo trước sự chuyển dịch quyền lực, thậm chí là tiền đề cho việc thay đổi triều đại. Trong nhiều trường hợp, người được ban cửu tích không còn chỉ là công thần, mà là quyền thần nắm giữ thực quyền quân sự – hành chính, đủ khả năng chi phối hoặc phế lập hoàng đế. Hiện tượng này không chỉ xuất hiện tại Trung Hoa, với các trường hợp tiêu biểu như Tào Phi, Tư Mã Chiêu, Lưu Dụ…, mà còn có sự tiếp nhận và vận dụng tại Việt Nam. Điển hình trường hợp của Mạc Đăng Dung, sau khi được vua Lê Cung Hoàng phong vương và ban cửu tích, chỉ một thời gian ngắn sau Mạc Đăng Dung đã bức vua Cung Hoàng nhường ngôi. Điều này cho thấy Cửu tích đã được sử dụng như một cơ chế hợp thức hóa chính danh cho hành vi tiếm quyền trong bối cảnh chính trị khủng hoảng. Do đó, khảo cứu Cửu tích không chỉ là nghiên cứu một chế định lễ nghi, mà còn là cách tiếp cận quan trọng để nhận diện điềm báo và cơ chế chuyển giao triều đại trong lịch sử Việt Nam và Trung Hoa thời trung đại.

1. Luận giải về cửu tích

Về từ nguyên của Cửu tích phải nói từ chữ cửu 九. Cửu 九 nghĩa thường dùng là số 9, còn có nghĩa khác là hội họp. Trong các sách Liệt Tử, Xuân Thu Phồn Lộ, Bạch Hổ Thông, Quảng Nhã đều nói: “九,究也 – cửu nghĩa là cùng cực vậy”. Hình thể của chữ tượng trưng cho dáng uốn khúc, quanh co mà đạt đến chỗ tận cùng. Trong sách của Hứa Thận (Thuyết Văn Giải Tự), chữ này phần nhiều viết là cật khuất 詰詘 nghĩa là quanh co, khúc khuỷu.

 Tích 錫 là một loại kim loại được cho là nằm trung gian giữa bạc và chì. Trong Chu Lễ 周禮, phần chú giải có chép rằng tích 錫 chính là dẫn 鈏; còn theo Chức Phương thị 職方氏 thì gọi là lạp 鑞. Tuy nhiên, chữ lạp 鑞 lại không được ghi nhận trong Thuyết Văn Giải Tự 說文解字. Trong các văn hiến kinh điển, chữ tích 錫 thường được dùng làm giả tá cho chữ tứ 賜, mang nghĩa là ban cho, ban thưởng; vì vậy, những cách nói như tích dư 錫予 thực chất chính là mượn chữ tích 錫 để biểu đạt ý nghĩa của tứ 賜. Về mặt cấu tạo chữ, 錫 thuộc bộ kim 金, lấy dịch易 làm thanh phù. 

Theo Lễ ký 禮記, Cửu tích 九锡 gồm có: xe ngựa 車馬, y phục 衣服, nhạc huyền 樂縣, cửa son 朱戶, nạp bệ 納陛, hổ bôn 虎賁, phủ việt 斧鉞, cung tên 弓矢 và cự sướng 秬鬯 (rượu tế). 

Một là xe ngựa 車馬: Chỉ loại xe quý bằng vàng gọi là kim xa đại lộ (xe có thanh ngang để kéo), cùng với binh xa nhung lộ – xe dùng trong chiến trận; kèm theo tám con ngựa đen (huyền mẫu nhị tứ). Người có đức hạnh, biết hành đạo, thì được ban xe ngựa [1].

Hai là y phục 衣服: Chỉ loại lễ phục cổn miện (áo cổn mũ miện), kèm theo một đôi giày đỏ (xích tích). Người có thể an dân thì được ban y phục.

Ba là nhạc huyền 樂縣: Chỉ các dụng cụ dùng để định âm và chỉnh âm trong dàn nhạc lễ. Người khiến dân hòa mục vui vẻ thì được ban nhạc huyền.

Bốn là cửa son 朱户: Tức cửa lớn sơn đỏ. Người có đông dân, cai trị yên ổn thì được ban cửa son.

Năm là nạp bệ 納陛: Có hai cách giải thích. Một là bậc thềm riêng khi vào điện, được khoét riêng để người đi lên không bị lộ, giống như lối đi đặc biệt cho khách quý. Hán Thư 漢書 – Vương Mãng truyện thượng 王莽傳上 có ghi: “朱戶﹑納陛。顏師古註引孟康曰:納,內也,謂鑿殿基際為陛,不使露 – Chu hộ, nạp bệ. Nhan Sư Cổ chú dẫn Mạnh Khang viết: Nạp, nội dã, vị tạc điện cơ tế vi bệ, bất sử lộ dã” nghĩa là: Chu hộ, nạp bệ. Nhan Sư Cổ chú dẫn lời Mạnh Khang rằng: “Nạp là đưa vào, ý nói đục phần nền điện để làm bậc cấp, không để lộ ra ngoài.” Một cách giải thích khác cho rằng nạp bệ là xây bậc giữa hai thềm điện, giúp việc lên điện thuận tiện hơn. Văn tuyển 文選 – bài sách Ngụy công cửu tích văn 冊魏公九錫文, chú của Lý Chu Hàn: “是用锡君纳陛以登 – Thị dụng tích quân nạp bệ dĩ đăng.” Nghĩa là: Vì vậy mà ban cho ngài nạp bệ để bước lên. Về sau, nạp bệ cũng được dùng để chỉ sự ưu đãi đặc biệt mà nhà vua dành cho các đại thần. Người có thể tiến cử hiền tài thì được ban nạp bệ.

Sáu là hổ bôn 虎賁: chỉ đội quân canh giữ cổng cung đình, tức vệ sĩ Hổ Bôn, gồm một số binh sĩ, có thuyết cho là khoảng ba trăm người. Từ này cũng có thể dùng để chỉ vũ khí mà vệ sĩ Hổ Bôn cầm giữ, như mâu, kích, thương và các loại binh khí tương tự. Người có thể trừ bỏ kẻ xấu thì được ban hổ bôn.

Bảy là phủ việt 斧钺: Tức rìu và búa đây là hai loại vũ khí trong thời cổ đại, nói chung dùng để chỉ chung các loại binh khí, hoặc ẩn dụ cho hình phạt và sự giết chóc. Người có thể trừng phạt kẻ có tội thì được ban phủ việt.

Tám là cung tên 弓矢: Gồm đồng cung tiễn bách – trăm bộ cung đỏ và huyền cung tiễn thiên – ngàn bộ cung đen, đều là loại cung tên chế tạo riêng. Người có thể chinh phạt kẻ bất nghĩa thì được ban cung tên.

Chín là cự sưởng  秬鬯: Là rượu hương dùng trong tế lễ, được nấu từ hạt kê đen quý hiếm (hắc thử) và cỏ uất kim (nghệ). Người có hiếu đạo vẹn toàn thì được ban rượu cự sưởng.

2. Việc ban cửu tích ở Trung Quốc 

Tại Trung Quốc việc ban Cửu tích cho thần tử đã có từ thời Hán. Trong Hán thư 漢書 – Vũ Đế kỷ 武帝紀, ghi năm Nguyên Sóc nguyên niên (128 TCN), Nhan Sư Cổ dẫn lời Ứng Thiệu chú thích rằng: “Cửu tích bao gồm xe ngựa, y phục, nhạc cụ, cửa son, nạp bệ, vệ sĩ Hổ Bôn, rìu và búa (phủ việt), cung tên, và cự sưởng. Cự sưởng 秬鬯 – phát âm giống 唱 sưởng, vốn là rượu làm từ ngũ cốc quý, dùng trong tế lễ thời Xuân Thu, về sau chuyên dùng cho nghi lễ tôn giáo”.

Việc ban Cửu tích cho thần tử có nhiều ý khác nhau, khi thì phó thác ấu chúa, lúc lại lôi kéo thế lực tăng cường ngoại giao. Nhưng phần phần đa việc ban thưởng Cửu Tích từ cuối thời Hán đều là xuất phát từ việc hoàng quyền lung lay, quyền lực thực tế đã rơi vào tay các thế lực khác. Việc ép thiên tử gia phong vương và ban cho Cửu tích thực chất là một bước đệm để hợp tức hóa việc tiếm ngôi sau này. Các trường hợp của Vương Mãng, họ Tư Mã, Thạch Hổ, Hoàn huyền, Hầu Cảnh,…đều là điển hình cho việc ép vua ban cửu tích trước khi đoạt ngôi.

Theo Chu lễ 周禮 phần Xuân quan điển mệnh 春官典命 và Lễ ký 禮記 phần Vương chế 王制 đều cho rằng “gia Cửu tích” (ban chín ân huệ) nói về chín cấp bậc của tước vị quan lại, trong đó “Thượng công cửu mệnh” là cấp cao nhất [3]. Bởi vậy Vương Mãng đã kết hợp hệ thống tước vị này với chín lễ vật vinh hiển nói trên – tức y phục (gồm đai ngọc, ngọc bội, giày), xe ngựa, cung tên, phủ việt, rượu cự sưởng, ngọc khuê tán, cửa son, nạp bệ và ba trăm vệ sĩ Hổ Bôn nhằm tự hợp thức hóa quyền lực của mình, thể hiện như được trời trao mệnh (thừa thiên mệnh). Đây cũng là bước đệm, hợp thức hóa lễ chế và quyền lực để Vương Mãng cướp ngôi và lập ra nhà Tân sau này.

 Sau khi Tư Mã Ý giết Tào Sảng, Ngụy đế Tào Phương từng ban Cửu tích cho Tư Mã Ý, nhưng ông cho rằng thời cơ chưa chín muồi nên đã từ chối. Hai năm sau chính biến, Tư Mã Ý qua đời; quyền lực tiếp đó được chuyển sang tay Tư Mã Sư, nhưng bốn năm sau Tư Mã Sư cũng mất vì bệnh về mắt. Sau đó, Tư Mã Chiêu là người nắm giữ thực quyền. Trong thời gian Tào Mạo làm hoàng đế bù nhìn dưới sự khống chế của Tư Mã Chiêu, ông đã chín lần ban chiếu gia phong cửu tích cho Tư Mã Chiêu, nhưng lần nào ông ta cũng từ chối, có lẽ vì cho rằng thời cơ soán vị vẫn chưa đến. Nhờ công lao quân sự trong việc diệt Thục, Tư Mã Chiêu được Ngụy đế Tào Hoán phong làm Tướng quốc kiêm Tấn vương, đồng thời ban cửu tích. Lần này, Tư Mã Chiêu chấp nhận. Từ đó, mọi điều kiện cho việc xưng đế đã cơ bản được chuẩn bị đầy đủ. Tuy nhiên, ngay năm sau, Tư Mã Chiêu lâm bệnh qua đời, chưa kịp chính thức lên ngôi. Cuối cùng, con trai ông là Tư Mã Viêm đã thay cha hoàn tất việc xưng đế, lập ra nhà Tây Tấn. Tuy nhiên nhà Tây Tấn cũng nhanh chóng lặp lại vết xe đổ Cửu tích. Trong thời kỳ Loạn Bát Vương, Triệu vương Tư Mã Luân đã khống chế triều chính, sát hại Hoàng hậu Giả Nam Phong và Hoài Nam vương Tư Mã Doãn, rồi ép hoàng đế phong cho mình chức Thị trung, Tướng quốc, đồng thời ban lễ cửu tích. Sau đó, Tư Mã Luân tiếp tục ép Tấn Huệ Đế thoái vị và tự mình xưng đế. Tuy nhiên, không lâu sau, Tề vương Tư Mã Quýnh, Hà Gian vương Tư Mã Ngung và Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh liên kết đánh bại Tư Mã Luân, buộc ông ta phải tự sát. Sau khi Tư Mã Luân bị giết, Tề vương Tư Mã Quýnh cùng các vương khác nghênh đón Tấn Huệ Đế trở lại ngôi vị. Do có công lớn, Tư Mã Quýnh được phong chức Đại Tư Mã và cũng được gia phong Cửu tích. Tuy nhiên, không bao lâu sau, Trường Sa vương Tư Mã Ngải đã giết Tư Mã Quýnh. Cả Tư Mã Luân và Tư Mã Quýnh đều là những người được ban Cửu tích trong thời kỳ Loạn Bát Vương, với mục đích cuối cùng là xưng đế. Tuy nhiên, tham vọng vượt quá năng lực, dù đều được ban cửu tích, cả hai đều nhanh chóng bị các thế lực khác tiêu diệt, sự tồn tại chỉ như hoa nở sớm tàn, thoáng qua trong lịch sử.

Thạch Lặc và Thạch Hổ là những quân chủ của nước Hậu Triệu trong thời kỳ Ngũ Hồ Thập Lục Quốc. Trong đó, Thạch Lặc là người Yết Hồ, xuất thân nô lệ, đồng thời là người sáng lập Hậu Triệu. Ban đầu, Thạch Lặc theo phò Lưu Uyên – thủ lĩnh người Hung Nô – và nhờ lập nhiều chiến công nên được thăng tiến. Lưu Uyên sau đó lập nên chính quyền Hán–Triệu, đồng thời tiêu diệt Tây Tấn. Sau khi Lưu Uyên qua đời, triều đình Hán–Triệu rơi vào cảnh tranh đoạt quyền lực. Sau khi Lưu Uyên mất, Lưu Thông kế vị; Lưu Thông qua đời thì Lưu Xán lên ngôi, nhưng không lâu sau bị quyền thần Cận Chuẩn sát hại. Cận Chuẩn tự lập làm vua. Thạch Lặc khởi binh đánh bại Cận Chuẩn, sau đó Lưu Diệu, người trong tông thất của Lưu Uyên, xưng đế, phong cho Thạch Lặc các chức Đại Tư Mã, Đại Tướng quân, đồng thời ban Cửu tích, tiến phong làm Triệu công. Không lâu sau, giữa Lưu Diệu và Thạch Lặc nảy sinh mâu thuẫn. Thạch Lặc sau đó đánh bại Lưu Diệu, tiêu diệt Hán–Triệu, chính thức xây dựng chính quyền Hậu Triệu. Khi Thạch Lặc qua đời, con trai là Thạch Hoằng lên ngôi hoàng đế. Thạch Hổ, cháu gọi Thạch Lặc bằng chú bác, nắm binh quyền và khống chế Thạch Hoằng. Không lâu sau, Thạch Hoằng phong Thạch Hổ làm Thừa tướng, Ngụy vương, Đại Thiền vu, đồng thời gia phong Cửu tích, thực chất là trao toàn bộ quân quyền và chính quyền cho Thạch Hổ, còn bản thân chỉ là hoàng đế bù nhìn. Vài tháng sau, Thạch Hổ phế truất Thạch Hoằng và tự lập làm hoàng đế.

Từ sau đó, trong thời Lưỡng Tấn và Nam Bắc triều, các đại thần khi âm mưu đoạt ngôi đều trước tiên xin được ban Cửu tích để tạo danh nghĩa hợp pháp như thể được trời và triều đình công nhận quyền lực. Vì vậy, về sau, cụm từ “gia Cửu tích” dần trở thành biểu tượng cho hành vi soán ngôi, tiếm quyền và phản nghịch. 

Cửu tích ngoài việc là bước đệm để quyền thần tiếm vị, Cửu tích còn lại công cụ để các vị hoàng đế tăng cường ngoại giao và dò xét thần tử. Tiêu biểu như trường hợp của Tôn Quyền và Gia Cát Lượng.

Tào Phi để kết liên minh Ngô – Ngụy cũng đã ban Cửu tích cho Tôn Quyền. Sách Tam Quốc chí三國志 – Ngô chủ truyện 吳主傳 chép: “今封君為吳王,使使持節太常高平侯貞,授君璽綬策書、金虎符第一至第五、左竹使符第一至第十,以大將軍使持節督交州,領荊州牧事,錫君青土,苴以白茅,對揚朕命,以尹東夏。其上故驃騎將軍南昌侯印綬符策。今又加君九錫,其敬聽後命- Kim phong quân vi Ngô vương, sử sứ trì tiết Thái thường Cao Bình hầu Trinh, thụ quân tỷ thụ sách thư, kim hổ phù đệ nhất chí đệ ngũ, tả trúc sứ phù đệ nhất chí đệ thập, dĩ đại tướng quân sứ trì tiết đốc Giao Châu, lĩnh Kinh Châu mục sự, tích quân thanh thổ, thư dĩ bạch mao, đối dương trẫm mệnh, dĩ doãn Đông Hạ. Kỳ thượng cố Phiêu kỵ tướng quân Nam Xương hầu ấn thụ phù sách. Kim hựu gia quân cửu tích, kỳ kính thính hậu mệnh.” Nghĩa là: “Nay phong khanh làm Ngô Vương, sai sứ giả cầm tiết, trao cho khanh ấn tỷ, đai, sách thư, kim hổ phù từ chiếc thứ nhất đến thứ năm, tả trúc sứ phù từ chiếc thứ nhất đến thứ mười; lấy danh nghĩa Đại tướng quân cầm tiết giám quản Giao Châu, kiêm lĩnh chức Kinh Châu mục; ban cho khanh thanh thổ bọc bằng bạch mao, để tuyên dương mệnh lệnh của trẫm, khiến khanh cai quản vùng Đông Hạ. Lại trao cho khanh ấn thụ, phù tiết và sách phong cũ của chức Phiêu kỵ tướng quân Nam Xương hầu. Nay lại gia ban cho khanh lễ cửu tích, hãy kính cẩn tiếp nhận mệnh lệnh sau.”

Tuy nhiên cũng có không ít công thần từ chối nhận Cửu tích để tránh bị nghi ngờ mưu phản. Ví dụ điển hình là Lý Nghiêm từng thử dò ý Gia Cát Lượng, khuyên ông nên nhận “Cửu tích” và tiến thêm một bước, xưng vương song Gia Cát Lượng đã ra sức chối từ.

Tam quốc chí 三國志 – Thục thư 蜀書 – Lý Nghiêm truyện 李嚴傳 viết: “嚴與亮書,勸亮宜受九錫,進爵稱王。” 諸葛亮回答:“今討賊未效,知己未答,而方寵齊、魏,坐自貴大,非其義也。若滅魏斬睿,帝還故居,與諸子並升,雖十命可受,況于九邪” – “Nghiêm dữ Lượng thư, khuyến Lượng nghi thụ cửu tích, tiến tước xưng vương.” Chư Cát Lượng đáp viết: “Kim thảo tặc vị hiệu, tri kỷ vị đáp, nhi phương sủng Tề, Ngụy, toạ tự quý đại, phi kỳ nghĩa dã. Nhược diệt Ngụy trảm Duệ, đế hoàn cố cư, dữ chư tử tịnh thăng, tuy thập mệnh khả thụ, huống ư cửu da.” Nghĩa là: Nghiêm viết thư cho Lượng, khuyên rằng nên nhận Cửu tích, tiến tước xưng vương. Gia Cát Lượng đáp rằng: Nay việc trừ giặc chưa thành, ân tri ngộ của tiên đế chưa đền đáp, mà lại muốn tự tôn sánh cùng Tề, Ngụy, ngồi hưởng vinh hoa, thì chẳng phải là việc nghĩa. Nếu một ngày diệt được Ngụy, chém được Tư Mã Duệ, Hoàng đế trở về cố đô, ta cùng các con của tiên đế cùng lên điện, thì dù mười mệnh cũng đáng nhận, huống chi là chín sao.

Câu trả lời của Gia Cát Lượng thể hiện rõ lòng trung quân tuyệt đối, khiêm nhường, và trung nghĩa đến cùng với nhà Thục Hán. Ông cho rằng, khi quốc gia còn chưa được thống nhất, thì việc tự tôn vinh mình bằng “Cửu tích” là trái với đạo nghĩa – điều này cũng cho thấy vì sao Gia Cát Lượng được xem là hình mẫu trung thần trong lịch sử Trung Hoa.

3. Mạc Đăng Dung từ việc nhận Cửu tích đến tiếm ngôi

Theo ghi chép của Toàn thư và Cương mục thì sự kiện duy nhất ở nước ta có liên quan đến Cửu tích đó là việc vua Lê Cung Hoàng ban Cửu tích cho Mạc Đăng Dung. Toàn thư chép: “Đinh Hợi, [Thống Nguyên] năm thứ 6 [1526], (Từ tháng 6 trở về sau, Mạc tiếm hiệu là Minh Đức năm thứ 1; Minh Gia Tĩnh năm thứ 6). Mùa hạ, tháng 4, vua sai bọn Tùng Dương hầu Vũ Hữu, Lan Xuyên bá Phan Đình Tá, Trung sứ Đỗ Hiếu Đễ cầm cờ tiết, mang kim sách, mũ áo, ô lọng, đai ngọc, kiệu tía, quạt hoa, tán tía đến làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, tiến phong Mạc Đăng Dung làm An Hưng Vương, gia thêm Cửu tích, Đăng Dung đón tiếp ở bến đò An Tháp, huyện Tân Minh” [4]. Riêng Cương mục thì sử thần nhà Nguyễn cho rằng Mạc Đăng Dung tự tiếm dụng: “Tháng 4, mùa Hạ. Đăng Dung tự làm An Hưng vương, tự cho mình được hưởng nghi lễ và đồ dùng Cửu tích. Đăng Dung từ sau vụ Đông Hà, giả vờ rút lui, sống cách nhàn tản, về ở Cổ Trai, nhưng vẫn từ xa cầm nắm quyền bính triều đình. Xuân sai bọn Tùng Dương hầu Vũ Hữu và Lan Xuyên bá Phan Đình Tá cầm cờ tiết và đem kim sách đi Cổ Trai ban cho Đăng Dung: mũ áo thêu rồng đen, đai ngọc, kiệu tía, quạt vẽ, tán tía; tiến phong Đăng Dung tước An Hưng vương, và cho thêm Cửu tích.”[5] 

Sự kiện này được xem là bước ngoặt trong quá trình chuyển giao quyền lực từ nhà Lê sang họ Mạc. Việc ban Cửu tích vốn chỉ dành cho những công thần hoặc người có công lao kiệt xuất, tương ứng như một hình thức hợp thức hóa về mặt danh nghĩa và địa vị. Do đó, việc vua Lê Cung Hoàng ban Cửu tích và phong vương cho Mạc Đăng Dung không chỉ là sự ưu đãi hay ghi nhận công lao mà thực chất đã trao cho Mạc Đăng Dung công cụ chính trị hợp pháp để tiến bước trên con đường tiếm quyền.

Sang đến tháng 5 cùng năm, vua Lê Cung Hoàng làm lễ ban quạt và làm bài thơ Chu công [6] giúp Thành Vương [7] lại ban cho Mạc Đăng Dung: 

Hựu mệnh Chu gia thực tự thiên,

Cần lao tá trị nhiệm nhân hiền.

Trấm tà khẳng vị sàm nhân thiết,

Trung hiếu chung tồn thực đức kiên.

Lễ bị nhạc hòa bình định nhật,

Chính thanh hình thố hạo hy niên.

Hưu phong lệnh vận quang thiên cổ,

Cảnh hạnh cao sơn thượng miễn chiên.”

Nghĩa là: 

“Giúp vận nhà Chu thực tự trời,

Chăm lo công việc dụng hiền tài.

Gièm pha mặc kẻ bày nhiều cách,

Trung hiếu bền lòng chẳng chút sai.

Lễ đủ, nhạc hòa, đời thịnh trị,

Chính hay, hình ít, buổi vui tươi.

Tiếng hay đức tốt nghìn thu rạng,

Núi cao, đường rộng hãy noi người.”

Cương mục cho rằng việc Mạc Đăng Dung tự tiến phong vương lại dùng cả Cửu tích là dấu hiệu của quá trình thoái quyền nhà Lê và là sự mở đường cho việc nhà Mạc đoạt đoạt vị. Vua Cung Hoàng ban bài thơ Chu Công giúp Thành Vương có lẽ là cũng đang muốn nhắc nhở Mạc Đăng Dung hãy giống như Chu Công trở thành thần tử đắc lực phò tá thiên tử chứ đừng học theo gương của Vương Mãng hay Tào Tháo. Cũng giống như Trần Nghệ Tông [8] từng ban tranh tứ phụ [9] cho Hồ Quý Ly để Quý Ly dốc lòng phò tá Trần Thuận Tông, tuy nhiên cuối cùng Hồ Quý Ly vẫn tiếm vị, giết Thuận Tông và phế truất Phế Đế để giành ngôi. Cuối cùng Lê Cung Hoàng cũng rơi vào kết cục giống với Thuận Tông của nhà Trần.   

Việc Lê Cung Hoàng ban Cửu tích và phong An Hưng vương cho Mạc Đăng Dung là một lựa chọn bất đắc dĩ trong bối cảnh triều Lê đã suy kiệt. Quyền lực trung ương bị phân rã, các thế lực phong kiến cát cứ nổi lên, các nhóm đại thần tranh chấp lẫn nhau khiến ngôi vua chỉ còn là biểu tượng. Trong tình thế ấy, Mạc Đăng Dung dần trở thành nhân vật có khả năng chi phối triều chính mạnh nhất. Vua Lê Cung Hoàng dù muốn hay không cũng buộc phải dựa vào ông để duy trì sự ổn định tạm thời. Tuy nhiên, sự dựa dẫm ấy lại mở ra con đường hợp thức hóa cho việc tiếm quyền.

Đến tháng 6 năm 1526, Mạc Đăng Dung tiến vào Đông Kinh, buộc vua phải làm lễ thiện nhượng. Lê Cung Hoàng bị giáng xuống làm Cung vương, rồi bị giam cùng Hoàng Thái hậu tại cung Tây Nội. Không lâu sau, ông bị ép thắt cổ tự vẫn. Triều Lê sơ từ Lê Thái Tổ khởi dựng năm 1428 đến Lê Cung Hoàng kết thúc năm 1527, tồn tại tròn một thế kỷ, khép lại bằng một cuộc chuyển ngôi mang tính cưỡng bức nhưng được hợp thức hóa bằng nghi lễ mà việc ban Cửu tích là mở đầu cho quá trình tiếm vị của Mạc Đăng Dung.

Sự kiện này đánh dấu sự xuất hiện của triều Mạc nhưng đã mở ra cuộc chiến Nam – Bắc triều kéo dài gần nửa thế kỷ. Qua đó có thể thấy việc Cửu tích, vốn chỉ là biểu tượng danh dự ban cho đối tượng huân quý, đã trở thành công cụ chính trị sắc bén, đóng vai trò quyết định trong việc chuyển dịch quyền lực triều đại.

Tiểu kết

Qua việc khảo cứu nguồn gốc, nội hàm và quá trình vận động của chế định Cửu tích trong lịch sử Đông Á, có thể khẳng định rằng đây không chỉ là một hình thức ban thưởng mang tính lễ nghi, mà đã trở thành một công cụ chính trị đặc thù gắn chặt với sự dịch chuyển quyền lực tối cao trong nhà nước quân chủ. Từ chỗ biểu trưng cho công lao và địa vị vượt trội của đại thần, Cửu tích dần mang hàm ý thừa nhận thực quyền, thậm chí là sự nhượng bộ có tính cưỡng bức của hoàng quyền trước quyền thần.

Thực tiễn lịch sử Trung Hoa cho thấy, phần lớn những nhân vật được ban Cửu tích như Tào Tháo, Tư Mã Chiêu, Lưu Dụ, Thạch Lặc hay Hoàn Huyền đều đứng trước hoặc trực tiếp tiến hành việc phế lập hoàng đế, khai sáng triều đại mới. Mô thức này tiếp tục được tiếp nhận và tái hiện tại Việt Nam, tiêu biểu là trường hợp Mạc Đăng Dung, khi việc được phong vương và ban Cửu tích đã trở thành bước đệm mang tính hợp thức hóa cho hành vi soán ngôi nhà Lê lập ra nhà Mạc.

Như vậy, Cửu tích không chỉ phản ánh sự suy yếu của hoàng quyền trung ương, mà còn là “tín hiệu chính trị” báo trước biến động triều đại. Việc nhận diện và phân tích cửu tích vì thế có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu lịch sử thể chế, giúp làm sáng tỏ cơ chế chuyển giao quyền lực và logic vận hành của nhà nước phong kiến ở Việt Nam và Trung Hoa thời trung đại.

Chú thích:

[1]  裘锡圭. 文字学概要. 北京. 商务印书馆. 2013. tr. 263.

[2] 《晋书》卷1《宣帝纪》:冬十二月,加九锡之礼,朝会不拜。固让九锡。

[3] 孔颖达. 周礼正义. 北京: 中华书局. 2000. tr. 87.

[4]  Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, Nội các quan bản, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính, Nxb Khoa học xã hội, 1998, tr. 107

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Viện sử học dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr.96.

[6] Chu Công tức Chu Công Đán (? – ?) em trai của Chu Vũ Vương người sáng lập nhà Chu. Sau khi Vũ Vương mất, Chu Công thay mặt vua nhỏ tuổi Thành Vương nhiếp chính, giúp củng cố vương triều, lập chế độ lễ nhạc và quy tắc cai trị. Ông được xem là mẫu hình “hiền thần phụ tá minh quân”.

[7] Thành Vương (1065 TCN-1020 TCN) là con của Chu Vũ Vương, vị vua thứ hai của nhà Chu. Khi lên ngôi còn nhỏ nên không trực tiếp điều hành, việc chính trị do Chu Công nhiếp chính. Thành Vương sau khi trưởng thành tiếp tục hoàn thiện nền thống trị và mở rộng vương quyền.

[8] Trần Nghệ Tông (1321- 1394) húy Trần Phủ, là vị Hoàng đế thứ 8 của triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông lên ngôi năm 1370 sau khi phế truất Dương Nhật Lễ, trong bối cảnh triều Trần suy yếu, nội chính rối loạn và ngoại bang (Chiêm Thành) quấy nhiễu. Năm 1372, ông nhường ngôi cho em là Trần Duệ Tông và lui về làm Thái thượng hoàng, nhưng thực quyền triều chính vẫn thuộc về ông. Sau khi ông mất quyền lực triều đình rơi vào tay Hồ Quý Ly. Trần Nghệ Tông mất năm 1394, được an táng tại lăng Hàm Thái.

[9] Tranh tứ phụ gồm Chu Công giúp Thành Vương, Hoắc Quang giúp Chiếu Đế, Gia Cát giúp Thục Hậu chúa, Tô Hiến Thành giúp Lý Cao Tông.

Tài liệu tham khảo 

Tài liệu tiếng Việt

  1. Đại Việt sử kí toàn thư, tập 3, Nội các quan bản, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính, Nxb Khoa học xã hội 1998.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Viện sử học dịch Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (2005), Đại Việt thông sử, Viện sử học dịch, Nxb Văn hóa Thông tin.
  4. Đỗ Băng Đoàn và Đỗ Trọng Huệ (1992), Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam, Nxb Văn học.

Tài liệu tiếng Trung

  1. 裘锡圭, 2013, 文字学概要. 北京. 商务印书馆.
  2. 孔颖达, 2000, 周礼正义. 北京: 中华书局.  
ShareTweet

Để lại một bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


No Result
View All Result
  • Nghi lễ vòng đời
    • Hôn lễ
    • Sinh con
    • Động thổ làm nhà
    • Mừng thọ và sinh nhật
    • Tang ma
    • Ngày giỗ
  • Nghi lễ hàng năm
    • Dịp Tết Nguyên Đán 1/1
    • Dâng sao giải hạn 15/1
    • Nguyên tiêu 15/1
    • Tết Thanh minh 3/3
    • Tết Hàn thực 3/3
    • Tết Đoan ngọ 5/5
    • Lễ Thất Tịch 7/7
    • Lễ Vu Lan 15/7
    • Tết Trung Nguyên 15/7
    • Tết Trung thu 15/8
    • Tết Trùng Cửu 9/9
    • Tết Cơm mới (10-15/10)
    • Tết Táo Quân 23/12
    • Ngày mùng 1 hàng tháng
    • Ngày rằm hàng tháng
  • Đặc trưng văn hóa Việt
    • Chữ và Nghĩa
    • Phong tục thờ cúng
    • Văn hóa giao tiếp
    • Món ăn truyền thống
    • Trò chơi dân gian
    • Trang phục truyền thống
    • Nghệ thuật truyền thống
    • Di sản văn hoá
    • Nền nếp sinh hoạt
  • Tôn giáo tín ngưỡng
    • Phật giáo
    • Công giáo
    • Thờ cúng tổ tiên
    • Thờ cúng tổ nghề
    • Tín ngưỡng thờ Thần
    • Tín ngưỡng thờ Mẫu
    • Tôn giáo khác

© 2021 cophong.vn